Mật độ các khoáng chất của xương (BMD) là một phép đo số lượng các mô canxi hóa ở xương. BMD được đo chính xác nhất khi sử dụng phương pháp chụp cắt lớp DXA.

Phương pháp đo độ hấp thu năng lượng tia X kép (DXA, trước đây là DEXA) là một phương pháp để đo đạc mật độ khoáng của xương (BMD). Hai tia X với mức năng lượng khác nhau được định hướng vào xương của bệnh nhân. Khi sự hấp thu của mô mềm được loại trừ, BMD có thể được xác định nhờ vào độ hấp thu của mỗi tia bởi xương. DXA là kỹ thuật đo đạc mật độ xương được sử dụng rộng rãi nhất và được nghiên cứu rõ nhất. DXA bao gồm một lượng nhỏ chất phóng xạ, nó thường được quản lý bởi một bộ phân về kiểm soát chất lượng để sử dụng chất phóng xạ cho ngành y học hình ảnh.

Phương pháp đo mật độ xương

Thường được biết đến với tên gọi là phương pháp chụp cắt lớp mật độ xương hay phép đo mật độ xương, DXA được dùng như một thử nghiệm rà soát và chẩn đoán cho bệnh loãng xương. Những xương nào thường bị gãy nhất ở người do chứng loãng xương được chụp cắt lớp để rà soát, mặc dù bệnh loãng xương có thể xuất hiện ở bất cứ xương nào và không nhất thiết là được phân bố đồng nhất trong hệ xương. Những nơi này bao gồm: xương đùi gần và xương cột sống vùng thắt lưng. Trong một số trường hợp, xương quay xa và xương trụ cũng được kiểm tra, thường là ở bệnh nhân bị béo phì hay những người mà các chấn thương chỉnh hình khiến cho việc chụp kiểm tra cột sống và vùng hông là bất khả thi

Ở những bệnh nhân bị gãy xương, chụp cắt lớp DXA được dùng để chẩn đoán bệnh loãng xương nếu có nghi ngờ. Ví dụ như một người đàn ông 50 tuổi bị té ngã và gãy xương ở vùng hông. Cú ngã là rất nhẹ khiến cho bác sĩ có thể nghi ngờ rằng có căn bệnh nào đó về xương đang hiện diện. Phép chụp cắt lớp DXA sẽ được dùng trong những trường hợp này để khảo sát xem căn bệnh về xương nào có thể đang tồn tại.

BMD tối đa xuất hiện ở độ tuổi 30 ở cả hai giới. BMD được dùng như là tiêu chuẩn cho tất cả các kết quả DXA so sánh. Một báo cáo chụp cắt lớp DXA cho thấy BMD đo được, sự khác biệt giữa  BMD đo được và mối liên hệ trung bình về tuổi tác- giới tính, được biết đến như là thang điểm Z, và sự khác nhau giữa BMD đo được với mức trung bình tiêu chuẩn theo giới tính ở độ tuổi 30, được gọi là thang điểm T. Thang điểm T từ -1,0 đến -2,4 là chẩn đoán của chứng thiếu xương, được xem là yếu tố nguy cơ trung bình của gãy xương. Thang điểm T từ -2,5 hay thấp hơn là chỉ dẫn về bệnh loãng xương